
Tờ Quân đội Nhân dân vừa cho biết, sau khi Bộ Ngoại giao Trung Quốc đề nghị Việt Nam tham gia tìm kiếm hai tàu đánh cá của Trung Quốc ở vùng biển gần đảo Bạch Long Vĩ, Bộ Tổng Tham mưu thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam đã điều động bốn tàu hải quân lên đường tìm kiếm hai con tàu này...
Giao diện trang web báo Quân đội Nhân dân với bài báo "Hải quân VN tích cực tìm kiếm ngư dân TQ gặp nạn."
Tin vừa kể được tờ Quân đội Nhân dân loan tải hôm 20 tháng 10, cùng lúc với việc tờ Tuổi Trẻ dẫn ý kiến của một đại tá hiện là Phó Chỉ huy trưởng, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Ngãi, cho biết, thiệt hại mà ngư dân của 16 con tàu đánh cá ở Quảng Ngãi vào quần đảo Hoàng Sa trú bão số 9, bị phía Trung Quốc tịch thu tài sản, nhiên liệu được ước lượng gần một tỉ đồng.
Liệu có gì đáng chú ý quanh hai sự kiện cùng xảy ra trên biển Đông? Mời quý vị nghe Trân Văn tổng hợp và tường trình.
Theo tờ Quân đội Nhân dân, hôm 14 tháng 10, hai tàu đánh cá của Trung Quốc đã bị bão đánh chìm ở khu vực gần đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam.
Trên hai con tàu ấy có 13 ngư dân Trung Quốc. Cũng vì vậy, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã đề nghị Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia tìm kiếm.
Sau khi nhận được đề nghị kể trên, Bộ Tổng Tham mưu thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam đã chỉ thị cho Hải quân nhân dân Việt Nam thực hiện đề nghị đó.
Tờ Quân đội nhân dân tường thuật – xin dẫn nguyên văn: Bộ Tư lệnh Hải quân đã điều động bốn tàu hải quân tham gia tìm kiếm tàu cá Trung Quốc bị nạn. Đến 7 giờ 55 phút ngày 17 tháng 10, tàu HQ 797 đã phát hiện và vớt được một thi thể ngư dân Trung Quốc ở khu vực đông nam đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý. Văn phòng Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm cứu nạn đã thông báo cho phía tàu Trung Quốc đến vị trí của hai tàu HQ 797 và HQ 786 nhận bàn giao thi thể ngư dân Trung Quốc.
Qua vụ này, có thể thấy, cách ứng xử của Việt Nam hoàn toàn khác với lối hành xử của Trung Quốc.
Hồi cuối tháng trước, do không kịp chạy vào bờ khi bão số 9 ập đến, 16 tàu đánh cá ở Quảng Ngãi, với hơn 200 ngư dân Việt Nam đành tạt vào quần đảo Hoàng Sa để trú bão. Tuy nhiên lực lượng vũ trang của Trung Quốc đang chiếm đóng quần đảo này đã chặn họ lại cho đến khi Việt Nam liên lạc, xin để ngư dân của mình được cập cảng tránh bão.
Sau khi bão tan, nhiều ngư dân Việt Nam được cho phép tạm trú tránh bão đã bị lực lượng vũ trang của Trung Quốc đánh đập, nhiều tàu đánh cá bị cướp, tài sản trên tàu bị hủy hoại, ...
Một trong các nạn nhân, ông Trương Minh Quang, chủ tàu QNg 90078, kể: “Nói chung là bão xong rồi, nó ra nó lấy đồ hết. Nói chung là nó ra rồi nó bóp cổ, nó làm dữ dội lắm, nó làm kinh lắm. Máy móc, dụng cụ mình đi làm, lấy hết luôn, chỉ để lại một la bàn cho mình về à.”
Hai sự kiện vừa dẫn cho thấy sự khác biệt rất lớn giữa Việt Nam và Trung Quốc, trong cách hành xử với những ngư dân lâm nạn. Một bên tích cực cứu giúp, bên kia thì ngược lại.
Thế nhưng, đối chiếu hai sự kiện này với nhiều sự kiện khác, một số người cho biết, họ cảm thấy tiếc vì hình như chính quyền cũng như Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ tích cực cứu giúp ngư dân Trung Quốc.
Những người này cho rằng, khi lâm nạn trên biển, dù rất cần sự hỗ trợ tích cực của cả chính quyền lẫn quân đội, song hiếm khi ngư dân Việt Nam được quan tâm đến như vậy. Họ vẫn thường xuyên đơn độc, đối đầu với gió to, sóng dữ, bão tố, kể cả chuyện bị săn đuổi, tấn công, bị đánh, cướp, tàu bị đâm chìm.
Thực tế có đúng như thế? Trong một lần trả lời phỏng vấn Đài Á Châu Tự Do, ông Nguyễn Thanh Thu, ngụ tại Quảng Ngãi, chủ tàu kiêm thuyền trưởng tàu đánh cá mang số hiệu QNg 95348, bị đâm chìm giữa biển, vào lúc rạng sáng ngày 19 tháng 5, kể:
Nguyễn Thanh Thu: Tàu chìm hẳn trong khoảng 15 phút, anh em chúng tôi bơi miết cho đến 6 giờ sáng rồi có một chiếc thúng vớt chúng tôi lên. Chúng tôi dùng bộ đàm kêu các tàu ở gần đến cứu…
Trân Văn: Mình có hải quân, có cảnh sát biển, có biên phòng, việc tuần tra trên biển như thế nào? Trong những trường hợp tàu lạ đâm chìm tàu đánh cá, tàu hang của mình…
Nguyễn Thanh Thu: Không có tàu hải quân Việt Nam... Không có tàu…
Trân Văn: Rồi cảnh sát biển hoạt động thế nào?
Nguyễn Thanh Thu: Tàu cảnh sát biển không có… Chúng tôi gọi ngư dân cùng quê làm ở gần đó tới cứu chúng tôi và sau đó tôi phải thuê một cái ghe chở 26 lao động vào trong đất liền.
Những gì đã xảy ra với ông Nguyễn Thanh Thu hình như không phải là cá biệt. Vợ của thuyền trưởng một tàu đánh cá ở Đà Nẵng, tâm sự: “Ở ngoài biển phần ai nấy biết chứ mô có ai bảo vệ. Bảo vệ là hồi bão tố, biên phòng ở trong bờ điện ra nhắc chừng, bảo là Đài báo bão, bảo phải cập bến thì họ kêu gọi mình vô bờ thôi chứ ngoài đó làm chi có ai bảo vệ. Làm ăn ngoài biển mạnh anh mô lo anh nấy. Lo làm ăn thế thôi chứ không có ai bảo vệ hết.”
Với thực tế như người ta đã biết, việc chính quyền và quân đội Việt Nam cử đến bốn tàu hải quân để tìm kiếm hai tàu đánh cá của ngư dân Trung Quốc hình như là khác lệ thường?
Một số người phỏng đoán, đó có thể là vì chính quyền Việt Nam thực sự muốn chứng tỏ thiện chí thực hiện phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt, bất kể thái độ của Trung Quốc thế nào. Tuy nhiên điều đó chỉ là phỏng đoán.
Những phỏng đoán này có thể vì mọi người vẫn thường nghe lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ tuyên bố những ý như ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát biểu tại Hà Giang – một trong những tỉnh giáp với Trung Quốc: Tình hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa là số một! Phải làm sao giữ mãi, trân trọng. Dù nó có gặp khó khăn, có gặp những vấn đề gì trở ngại thì hãy đoàn kết, thân ái với nhau. Trao đổi để tìm ra cái giải pháp khắc phục! Hai bên biên giới phải là hai bên biên giới hữu nghị. Nhân dân hai bên phải thực sự đoàn kết!
Thật ra tình hữu nghị là yếu tố không mới. Đây là điều mà xưa nay, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam thường xuyên khẳng định, sẽ tích cực gìn giữ khi quan hệ với các quốc gia có cùng thể chế chính trị.
Ở chuyến thăm Cuba hồi đầu tháng này, cũng với quan niệm như thế, ông Nguyễn Minh Triết tuyên bố: “Có người ví von, Việt Nam – Cuba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới! Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ...” Video clip ghi lại tuyên bố quí vị vừa nghe đang được giới thiệu rộng rãi trên Internet.
Trong khi Việt Nam và Cuba đang canh giữ hòa bình cho thế giới thì tại biển Đông, ngư dân Việt Nam vẫn còn đầy âu lo, trăn trở khi kiếm sống trên vùng biển vốn thuộc chủ quyền xứ sở của mình.
Ông Trương Minh Quang, chủ tàu đánh cá mang số hiệu QNg 90078, kể suy nghĩ cũng như tâm sự của ông về thực tế biển Đông: “Nói chung mình nghe là của Việt Nam nhưng của Việt Nam gì mà ra nó bắt miết. Việt Nam đi ra đó là phải né đi ban đêm chứ ban ngày không dám đi, đi rồi sợ ngang qua đó nó bắt anh ơi!”
Ông Dương Văn Thọ, chủ tàu đánh cá mang số hiệu QNg 6597 TS, cũng vậy. Ông bảo: “Tôi thường gặp Hồng Kông, Đài Loan hay Nhật Bản cũng đều làm ở quần đảo Hoàng Sa nhưng mà mình chưa nghe bắt các nước ấy. Bắt Việt Nam không à! Nó lạ kỳ!”
Sự kỳ lạ đó có phải là hệ quả của việc duy trì, phát triển tình hữu nghị với các nước xã hội chủ nghĩa anh em để cùng canh giữ hòa bình cho thế giới?
Part 2
Vụ Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liên quan đến các quyết định về bauxite được giới quan sát cho là “không khả thi” nhưng không nhất thiết mang hình ảnh “con kiến đi kiện củ khoai.”
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trog chuyến thăm Nam Hàn hồi cuối tháng 5-2009. Hôm 11-6-2009, Luật sư Cù Huy Hà Vũ đã nộp đơn kiện ông Dũng liên quan đến quyết định triển khai dự án bauxite Tây Nguyên.
Ngày 11 tháng Sáu vừa qua, một công dân, là tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, đã gởi “Đơn Khởi Kiện Thủ Tướng Chính Phủ Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” đến Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hà Nội.
Đơn khởi kiện của ông Cù Huy Hà Vũ kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu lý do là ông Dũng “ban hành trái pháp luật Quyết Định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 1 tháng 11 năm 2007 phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến sử dụng quặng bauxit giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025.”
Đơn kiện của ông Cù Huy Hà Vũ, với bị đơn là Thủ Tướng Chính Phủ, được một luật sư nổi tiếng tại Hà Nội, ông Nguyễn Trọng Tỵ, nói là “từ xưa đến nay chưa có.”
Đơn kiện này, theo nhận định của Tiến Sĩ Nguyễn Vân Nam, chuyên viên Luật Tổ Chức Nhà Nước và Công Pháp Quốc Tế, là “chắc chắn không thể được thụ lý.”
Luật sư Nguyễn Trọng Tỵ cho rằng, cần phân biệt đâu là quyết định của một cơ quan, và đâu là quyết định mang tính cá nhân:
“Phải xem đến nội dung của quyết định ấy [167/2007/QĐ-TTg]. Quyết định ấy, nếu là người đứng đầu 1 cơ quan hành chính, thay mặt cơ quan hành chính để ban hành, thì đấy là của 1 cơ quan. Còn nếu quyết định ấy không có tập thể, không có cơ quan quan hệ đến, thì đó là quyết định cá nhân. Trong trường hợp thì tôi chưa thấy có một điều gì để ông Vũ kiện.”
Luật sư Nguyễn Vân Nam thì cho rằng một công dân không thể kiện Thủ Tướng, vì Thủ Tướng “chỉ là người thay mặt Chính Phủ.” Nếu kiện, thì bị đơn cần phải là Nhà Nước, hay Chính Phủ mà ông Thủ Tướng ấy là người đại diện.
Vẫn theo luật sư Nam, đơn kiện mà ông Cù Huy Hà Vũ đang đệ nạp là “không thể được,” trừ khi ông Nguyễn Tấn Dũng ‘bị kiện cá nhân với những tội danh khác.’
“Ông Dũng trong tư cách một cá nhân, thực hiện nhiệm vụ một công chức, chỉ có thể bị kiện với tư cách cá nhân khi, hoặc là lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, hoặc là thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Trong trường hợp này thì phải áp dụng luật hình sự. Và muốn kiện theo luật hình sự thì phải gởi đơn yêu cầu Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao điều tra và ra quyết định khởi tố. Một đơn khởi kiện như ông Vũ đang làm là không thể được.”
Luật sư Nguyễn Trọng Tỵ nhận định, rằng đây là một vụ kiện hành chính, và vì vậy yếu tố “gây hại” do một quyết định gây ra sẽ là yếu tố quan trọng về quyền kiện của công dân:
“Kiện hành chính là kiện đối với quyết định hoặc hành vi hành chính của một công chức, viên chức, bất kể đó là ai. Nhưng việc ấy, hành vi ấy, hay quyết định ấy phải là gây hại cho người ấy thì người ấy mới có quyền kiện.”
Đơn kiện của ông Cù Huy Hà Vũ nói rằng ban hành của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “trái pháp luật.” Cụ thể là trái với Luật Bảo Vệ Môi Trường, trái với Luật Quốc Phòng, Luật Di Sản Văn Hóa, và trái với Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật.
Ông Cù Huy Hà Vũ “đề nghị Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hà Nội thụ lý Đơn Khởi Kiện,” “đưa vụ án ra xét xử để hủy bỏ Quyết Định” ban hành ngày 1 tháng 11 năm 2007. Một số yêu cầu khác cũng được đưa ra trong Đơn Khởi Kiện.
Theo nhận định của Luật Sư Nguyễn Vân Nam, thì khả năng khả thi nhất là hình thức 1 đơn “khiếu nại,” được “gởi đến Quốc Hội, Chính Phủ hoặc một cơ quan có thẩm quyền, yêu cầu kiểm tra trong quá trình thực thi công vụ, Thủ Tướng Chính Phủ có vi phạm Luật, Qui Định trong quản lý Nhà Nước hay các qui định trong hoạt động của Chính Phủ hay không.”
Luật sư Nguyễn Vân Nam cho rằng đơn kiện của ông Cù Huy Hà Vũ là “khởi kiện về mặt hành chính,” trong khi “luật Việt Nam không giống luật hành chính của các nước khác.”
Tại các quốc gia khác, “mọi hoạt động hành chính, quản lý của Nhà Nước, đều bị giám sát bởi một Tòa Án Hành Chính. Tại Việt Nam, Luật quy định chỉ một số rất ít hành vi quản lý nhà nước bị đặt dưới sự kiểm soát của Tòa này.” Và trường hợp cụ thể này, luật sư Nam nói rằng “không nằm trong phạm vi xác định đó.”
Hình thức “đơn khiếu nại” là khả dĩ hơn, tuy nhiên, theo một số luật sư, “tác dụng giống như ông Vũ trông đợi là không thể có.”
Nguyễn Thị Trâm Oanh thực hiện từ Đức Quốc

Trong buổi phỏng vấn hôm nay do chị Nguyễn Thị Trâm Oanh thực hiện từ Đức Quốc, linh mục Phan Văn Lợi nói về cuộc viếng thăm LM Nguyễn Văn Lý; và cuộc đấu tranh của giáo dân thuộc giáo xứ Thái Hà
Đoạn 1
| Tốc Độ 56K Modem | Lấy Xuống Máy Nghe |
Đoạn 2
| Tốc Độ 56K Modem | Lấy Xuống Máy Nghe |
Cũng nên biết là Bà Harman bị tố cáo, theo như “nội dung trong băng thâu nghe lén” là Bà Herman đang điều đình với đám vận động hành lang Do Thái AIPAC, về vụ nhân viên APAIC bị bắt quả tang làm gián điệp ăn cắp tài liệu an ninh Mỹ gửi về Do Thái, Bà được yêu cầu vận động để những tên gián điệp này bị án nhẹ, ngược lại họ sẽ vận động các dân biểu khác để bà giữ chức Cao Hơn trong Quốc Hội..
Tổng Thống Jefferson ơi!!! Sao ông nói đúng quá.. Khi dân ngơ ngơ ngáo ngáo thì tất cả bọn chính trị gia sẽ là Chó Sói..
| | Tải xuống âm thanh |
Bà J.W.E Spies, Dân Biểu của Quốc hội Âu Châu đồng thời là Phó Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do CDA.
Trong một bài trước Nhã Trân đã phỏng vấn Tiến sĩ Ngô Văn Tuấn, Chủ tịch của tổ chức SOV. Trong bài này Nhã Trân trao đổi với Ban tổ chức cùng một vài thuyết trình viên và người tham dự để có chi tiết về cuộc hội thảo này.
Cuộc hội thảo diễn ra ở thành phố Alphen a/d Rijn của Hòa Lan trong ba ngày 6, 7 và 8 cho không những chỉ người Việt mà còn người ngoại quốc, đặc biệt là người dân Hòa Lan và Âu Châu.
Sau khi ban tổ chức tuyên bố bế mạc, Nhã Trân hỏi thăm vị đại diện là Tiến sĩ Ngô Văn Tuấn.
Nhã Trân: Tiến sĩ có thể cho biết cảm tưởng của Ban tổ chức sau 3 ngày hội thảo? Chúng ta có thể bắt đầu với số người tham dự.
TS Ngô Văn Tuấn: Chúng tôi cho là cuộc hội thảo đã rất thành công. Số người tham dự vào khoảng gần 200, hầu hết là người Hòa Lan và Âu Châu.
Có bà J.W.E Spies, Dân Biểu của Quốc hội Âu Châu đồng thời là Phó Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do CDA tức là đảng cầm quyền Hòa Lan, lên phát biểu; có ông Tiến sĩ Peters của Tổ chức Quốc tế Novib Oxfam; có ông Chủ tịch của Vitens ở Bỉ và Hòa Lan. Hai người đó đã đóng góp rất nhiều cho cuộc hội thảo. Riêng bà Spies thì tôi thấy bà đã có những phát biểu rất hay, rất có ý nghĩa. Chúng tôi nghĩ rằng đó là điều rất tốt.
Nhã Trân: Bà Dân biểu đã bày tỏ sự ủng hộ cộng đồng người Việt tại Hòa Lan hay thế nào thưa ông?
TS Ngô Văn Tuấn: Bà Dân Biểu Spies của Quốc hội Âu Châu đã bày tỏ thiện chí và tán đồng về người Việt Nam.
Nhã Trân: Và trong 3 ngày hội thảo đã có sự tham dự đầy đủ của các diễn giả, kể cả người Hòa Lan lẫn người Âu Châu?
TS Ngô Văn Tuấn: Trong thành phần diễn giả thì có Tiến sĩ Wimkoetsier, Tổng thư ký của Liên minh Hòa Bình Thế giới, tổ chức đã hỗ trợ chúng tôi rất nhiều trong việc tổ chức cuộc hội thảo này cũng như các hoạt động của người Việt ở Hòa Lan v.v; có Tiến sĩ Tottenberg, cựu Nghị sĩ của Nghị viện Âu Châu và đồng thời là Chủ tịch của Cơ quan Quốc tế Vitens ở Bỉ và Hòa Lan, nói về đề tài nước uống và môi trường của Việt Nam.
Diễn giả người Việt thì có Tiến sĩ Trương Quang, giáo sư Đại học nói về vấn đề tổng quát và cạnh tranh. Thứ hai là Tiến sĩ Phùng Liên Đoàn của cơ quan NASA (Mỹ), hiện là Chủ tịch của Pa Corporation, nói về điện nguyên tử và các lãnh vực về phát triển của Việt Nam, trong đó thì có vấn đề tư pháp của Việt Nam. Kế đến là Giáo sư Kinh tế Nguyễn Quốc Khải của Đại học John Hopkins, trình bày về các vấn đề kinh tế, tài chánh và khủng hoảng ở Việt Nam. Rồi có kỹ sư Phạm Công Hoàng, trình bày về một số vấn đề của xã hội Việt Nam hiện nay.
Nhã Trân: Và ngoài ra cũng có các quan khách và giới truyền thông?
TS Ngô Văn Tuấn: Phía truyền thông Việt Nam thì có UPF, tiếng nói của cộng đồng người Công Giáo Hòa Lan. Ngoài ra có Đài Multi Radio của Hòa Lan và Đài truyền hình Multi Media của Hòa Lan và Châu Âu, đến thu hình để phát ở Hòa Lan cũng như ở Châu Âu.
Người kế tiếp Nhã Trân có dịp trao đổi là kỹ sư Phạm Công Hoàng, Chủ tịch Tổ chức Sinh hoạt Người Việt Tỵ nạn tại Cộng hòa Liên bang Đức, diễn giả của một số đề tài về hiện trạng của xã hội Việt Nam.
KS Phạm Công Hoàng: Chúng tôi tham dự với tư cách là thành viên của Tổ chức Quốc tế Phát triển Việt Nam, và nói về vấn đề phát triển kinh tế, phát triển xã hội, và tình trạng nhân quyền ở Việt Nam. Chiều hướng phát triển như thế nào thì anh em đã thảo luận và trình bày về những điều đã làm, đang làm và sẽ làm.
Nhã Trân: Xin cho biết ông đã trình bày như thế nào về đề tài nhân quyền, và tình trạng phát triển ở Việt Nam?
KS Phạm Công Hoàng: Chúng tôi trình bày là nhân quyền ở Việt Nam đến giờ vẫn chưa được tôn trọng. Việt Nam có thay đổi chút ít nhưng vẫn đàn áp. Thứ hai là vấn đề tham nhũng. Tham nhũng vẫn còn tồn tại trong xã hội Việt Nam. Thứ ba là cái chiều hướng phát triển của Việt Nam. Phải làm sao để giúp dân chúng hết đói nghèo, và đất nước tiến theo các nước khác.
Nhã Trân: Hình như đây là lần đầu tiên ông tham dự cuộc hội thảo của Tổ chức Quốc tế Phát triển Việt Nam?
KS Phạm Công Hoàng: Đây là lần đầu tiên tôi tham dự cuộc hội thảo về phát triển Việt Nam, và tôi qua đây để làm quen với anh Tuấn cũng như với các diễn giả đến từ Mỹ, từ Bỉ, cũng như ở Hòa Lan.
Nhã Trân: Thế ông có nhận định hay ý kiến gì về cuộc hội thảo này?
KS Phạm Công Hoàng: Tôi thấy cuộc hội thảo rất có ích vì nói đến nhiều vấn đề của Việt Nam. Nói về ước mơ cho Việt Nam, nói về vấn đề xã hội, vấn đề tự do, vấn đề luật pháp, vấn đề thịnh vượng, và vấn đề thăng tiến cho Việt Nam.
Trong cuộc hội thảo bà Dân Biểu Spies Phó chủ tịch của đảng cầm quyền Hòa Lan đã nói nhiều điều rất là hay. Tôi thấy là người ngoại quốc họ lo cho người Việt mình rất nhiều. Đặc biệt là bà Spies. Bà đã thực hiện rất nhiều chương trình giúp đỡ các nước khắp thế giới trong đó có giúp người Việt Nam. Bởi vậy tôi nghĩ nếu mình là người Việt Nam mà không lo cho đất nước mình thì là điều rất đáng buồn. Tôi thấy là việc tổ chức hội thảo này của Tổ chức Quốc tế Phát triển Việt Nam có một tầm mức nào đó, và mình sẽ tiếp tục các đóng góp đó.
Diễn giả kế tiếp mà Nhã Trân phỏng vấn là Tiến sĩ W. A. Koetsier, Tổng thư ký của Liên minh Hòa Bình Thế giới tức tổ chức quốc tế Universal Peace Federation (UPF), định chế đã hỗ trợ nhiều cho Tổ chức Quốc tế Phát triển Việt Nam trong nhiều hoạt động cộng đồng cũng như trong việc tổ chức cuộc hội thảo này.
Ông Koetsier cho biết ý kiến về cuộc hội thảo này cũng như về Việt Nam:
“Điều chính yếu là làm sao người Việt có thể lập ra một tổ chức, một tập hợp các chuyên gia để soạn thảo kế hoạch phát triển Việt Nam.
Trong cuộc hội thảo diễn giả của tổ chức Novib Oxfarm cho biết là đã có nhiều thay đổi ở Việt Nam kể từ 20 năm vừa qua, nhưng tình trạng xã hội Việt Nam hiện vẫn còn nhiều điều chưa được tốt trừ khi có sự cải sửa. Đặc biệt là việc giáo dục người dân, việc xây dựng khả năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp và các lãnh vực công.
Tôi nghĩ rằng việc tổ chức hội thảo này, tập họp người Việt lại để bàn thảo những điều nên làm đối với xã hội Việt Nam bây giờ, là điều đúng, và đó là lý do chúng tôi đã hỗ trợ Tổ chức Quốc tế Phát triển Việt Nam trong việc tổ chức cuộc hội thảo này.”
Cuộc hội thảo tiếp đón nhiều người Việt đến từ các nước Âu Châu và Nhã Trân hỏi thăm một trong các tham dự viên đến từ Đức Quốc:
Nhã Trân: Chào ông Minh Đức và mời ông cho biết cảm nghĩ hoặc ý kiến về cuộc hội thảo này?
Ông Minh Đức: Tôi là một trong những người đi sang học tập và lao động ở bên Đông Âu. Tôi đại diện cho một số anh em ở bên Đông Âu sang đây để tham dự hội thảo và để làm quen với anh Ngô Văn Tuấn cũng như với các anh em người Việt những nước khác tới.
Tôi thấy cuộc hội thảo rất là thành công. Nó thỏa mãn sự trăn trở của chúng tôi về việc giúp ích cho người dân trong nước, không những là xóa đói giảm nghèo mà rồi còn để theo kịp các bước phát triển khác nữa, ví dụ như về đời sống, và sau đó là tiến tới vấn đề văn hóa và vấn đề tự do, nhân quyền v.v.. được cải thiện.
Chúng tôi rất lấy làm thích. Và trong tương lai nếu như được hợp tác với ông Tuấn thì chúng tôi sẽ cố gắng hỗ trợ và thực hiện.
Cuộc hội thảo của Tổ chức Quốc tế Phát triển Việt Nam chính thức bế mạc hôm ngày 8 tháng 2. Đại diện ban tổ chức Tiến sĩ Ngô Văn Tuấn cho hay tường trình về cuộc hội thảo sẽ được công bố rộng rãi, và kiến nghị sẽ được gửi đến Liên minh Châu Âu cũng như đến chính phủ Hòa Lan.
| | Tải xuống âm thanh |
Nhiều ý kiến lo ngại việc tiến hành dự án khai thác bô-xít có thể hủy hoại môi trường sống của vùng Tây Nguyên.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, gần đây nói rằng “khai thác bauxite tại Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng và Nhà Nước.” Đã và đang có rất nhiều ý kiến phản đối từ giới khoa học. Xin trình bày một phản biện khác, nhìn từ khía cạnh văn hóa. Nhà văn Nguyên Ngọc, người có một thời gian dài gắn bó với Tây Nguyên, nói rằng “Tây Nguyên là một bảo tàng sống độc đáo và đặc sắc.” Xin theo dõi cuộc phỏng vấn của Thiện Giao với nhà văn Nguyên Ngọc.
Thiện Giao: Chắc rằng ông đã và đang nghe về các dự án khai thác bauxite tại Tây Nguyên?
Nhà văn Nguyên Ngọc: Dự án bauxite Tây Nguyên đang gây rất nhiều dư luận trong xã hội. Nói chung là lo lắng nhiều mặt, về kinh tế sẽ thua lỗ, về môi trường thì tác hại không thể khắc phục. Còn nhiều mặt khác, như xã hội, an ninh quốc phòng, vân vân. Tôi thì tôi quan tâm đến mặt văn hóa xã hội của Tây Nguyên.
Thiện Giao: Là một người có nhiều năm sống và gắn bó với Tây Nguyên, ông có thể trình bày sơ lược những nét đặc trưng của văn hóa Tây Nguyên?
Nguyên Ngọc: Lâu nay, nói đến văn hóa Tây Nguyên, chúng ta thừa nhận đây là vùng văn hóa đặc sắc và độc đáo. Nói đến Tây Nguyên, người ta nói đến cồng chiêng, đàn T’rưng, nhà rông, vân vân. Tôi nghĩ rằng đây là những biểu hiện ra bên ngoài, là kết quả của một nền tảng văn hóa rất sâu. Tôi cho rằng UNESCO rất giỏi khi họ công nhận cồng chiêng là di sản văn hóa thế giới. Khi công nhận như vậy, họ không chỉ công nhận cồng chiêng hay âm nhạc cồng chiêng. Cái mà họ công nhận là “không gian văn hóa cồng chiêng.”
Thiện Giao: Ông có nói rõ hơn về “không gian văn hóa cồng chiêng.”
Nguyên Ngọc: Tây Nguyên trước hết là rừng. Toàn bộ văn hóa Tây Nguyên là tinh hoa của sự gắn bó của con người với tự nhiên. Tự nhiên ở Tây Nguyên chính là rừng. Điều thứ hai nữa, rừng đây là “rừng của làng.” Làng là đơn vị xã hội cơ bản của Tây Nguyên; và làng ở Tây Nguyên thì gọi là “làng rừng.” Ở Tây Nguyên, đất và rừng gắn chặt với nhau làm một, và đây là nền tảng, là gốc, của văn hóa. Đàn T’Rưng, nhà rông, cồng chiêng … chính là những bông hoa mọc trên gốc văn hóa ấy.
Thiện Giao: Có thể tạm hiểu ý ông, rằng các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, nếu được tiến hành, sẽ phá vỡ “không gian văn hóa” mà ông vừa đề cập, và từ đó sinh ra các ảnh hưởng về mặt xã hội?
Nguyên Ngọc: Khi Tây Nguyên mất nền tảng của mình, văn hóa của họ sẽ tan. Một khi văn hóa tan đi, đặc biệt đối với dân tộc thiểu số là nơi văn hóa đối với họ vô cùng sâu sắc, xã hội sẽ không thể ổn định, thậm chí các dân tộc không thể tồn tại một cách bền vững.
Thiện Giao: Ông đã từng nói rằng, Tây Nguyên là một “bảo tàng sống?”
Nguyên Ngọc: Ở Tây Nguyên có điều này rất đáng chú ý về văn hóa. Trên bán đảo Đông Dương của chúng ta, trong mấy ngàn năm, phía Bắc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, phía Nam thì Champa và Cambodia chịu ảnh hưởng Ấn Độ. Riêng Tây Nguyên, do điều kiện lịch sử và địa lý riêng, các lớp phủ văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ gần như không có. Cho nên, ở Tây Nguyên hiện còn tồn tại dấu vết những nền văn hóa cổ xưa nhất của những dân tộc đã từng sống trên mảnh đất mà nay ta gọi là mảnh đất Đông Dương. Có thể nói, đây là một bảo tàng sống của văn hóa cổ của Việt Nam.
Thiện Giao: Về mặt thổ nhưỡng thì sao, thưa ông? Thổ nhưỡng Tây Nguyên sẽ ra sao nếu người ta khai thác bauxite?
Nguyên Ngọc: Lấy Đắc Nông làm ví dụ. Bauxite có tầng quặng mỏng, độ phân tán vì vậy rất rộng, chiếm 2 phần 3 diện tích. Và như vậy sẽ có 2 phần 3 diện tích rừng sẽ bị “bóc” đi. Người ta nói rằng, người ta sẽ hoàn thổ, trồng rừng trở lại. Một người không cần am hiểu về khoa học cũng thấy rằng, vấn đề ở đây không phải là đất lấy ra rồi đổ vào lại, mà là thổ nhưỡng. Tôi từng đến một nơi mà người ta “hoàn thổ” được vài hecta ở vùng chè nổi tiếng Bảo Lộc. Bây giờ chỉ có cây keo tai tượng mọc thôi, còn chè thì người ta nói ít nhất 100 năm nữa mới trồng trở lại được. Tức là thổ nhưỡng tạo nên tầng đất trồng chè, cà phê, đã mất.
Thiện Giao: Như vậy, có thể nói tổng quát rằng các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên có thể dẫn đến nhiều hệ quả, mà tất cả các hệ quả này đều xoay quanh yếu tố văn hóa của các sắc tộc sống tại đó?
Nguyên Ngọc: Vấn đề Tây Nguyên như thế này: người ta đã từng nói đến chuyện môi trường, công nghệ, vân vân. Tất cả vấn đề này, ở Tây Nguyên, đều trở thành vấn đề xã hội và văn hóa. Do đó, không thể tách rời vấn đề môi trường và công nghệ ra khỏi không gian văn hóa rất độc đáo và đặc sắc của Tây Nguyên.